Trên mặt bằng, một phòng được ghi là “phòng học”. Nhưng trong một buổi học có người nghe giảng, có người cần hỏi lại bạn bên cạnh, có lúc cả nhóm phải đứng quanh một vật đang làm dở. Nếu chỉ xếp đủ bàn ghế, ta vẫn chưa biết những việc ấy sẽ diễn ra ở đâu.

Tôi muốn bắt đầu việc thiết kế từ những tình huống như vậy. Danh sách phòng và diện tích là một phần cần thiết của đề bài; để đi tới bản vẽ, còn phải hiểu ai dùng, dùng cùng ai và điều gì có thể làm họ khó chịu. Cách tiếp cận “Thiết kế điều kiện sống” đang được phát triển từ những câu hỏi đó.

Có thể thử ghi lại một buổi học bằng động từ: đến, cất đồ, ngồi nghe, trao đổi, làm thử, rửa dụng cụ, thu dọn. Khi viết đến “rửa”, ta phải tìm chỗ có nước. Khi viết đến “để khô”, xuất hiện nhu cầu về một mặt giá không cản lối đi. Những phần dễ bỏ sót trong bảng công năng bắt đầu hiện ra.

Thời điểm cũng làm thay đổi yêu cầu. Cùng một lối vào, lúc đầu giờ có thể cần cho nhiều người dừng cất đồ; giữa buổi lại chỉ có vài người đi qua. Một góc ngồi phù hợp để trò chuyện chưa chắc dùng được khi hoạt động bên cạnh cần yên tĩnh. Tôi thấy việc đặt các hoạt động lên cùng một trục thời gian giúp phát hiện xung đột sớm hơn.

Sau hành vi là quan hệ. Người vừa đến có thể đứng xem trước khi tham gia không? Người đang làm dở có bị những cuộc trò chuyện quanh mình cắt ngang không? Những câu hỏi về Riêng, Gần, Chung, Gặp và Mở đưa bản vẽ đến gần từng người hơn. Chúng cũng buộc người thiết kế cân nhắc những nhu cầu có thể trái nhau trong cùng một không gian.

Giả sử một nhóm muốn có xưởng dùng chung. Việc đầu tiên cần làm rõ là họ thực sự sẽ chia sẻ thứ gì: máy, bàn thao tác, kho vật liệu hay người hướng dẫn. Mỗi thứ kéo theo một tổ chức khác. Máy cần khoảng thao tác và điều kiện an toàn; đồ làm dở cần chỗ lưu giữ; vật tư cần cách kiểm kê. Một xưởng đẹp trên phối cảnh có thể trở nên chật ngay khi những việc này bắt đầu.

Đến đây, đường đi và khoảng cách mới có cơ sở để hình thành. Những việc cùng cần nước có thể ở gần nhau. Nơi gây tiếng động cần được cân nhắc với chỗ tập trung. Chỗ quan sát có thể nằm bên rìa để người mới đến nhìn rõ mà không chắn hoạt động. Hiên hoặc một đoạn hành lang đủ rộng đôi khi nhận thêm được việc chờ, trò chuyện hay nghỉ tay; khả năng ấy cần được kiểm tra bằng kích thước thực.

Mặt cắt tiếp tục giải quyết những điều mặt bằng chưa nói hết: ánh sáng có rọi thẳng vào mặt bàn không, mái che được tới đâu, người ngồi có nhìn thấy người đứng ở phía bên kia không. Mỗi quyết định hình học lúc này gắn với một việc đang chờ được giải quyết.

Một phần của đề bài còn nằm sau ngày bàn giao. Ai mở cửa xưởng, ai cất dụng cụ, sản phẩm dở dang được để lại mấy ngày? Nếu chưa rõ, thiết kế có thể phải chừa khả năng chia nhỏ, khóa riêng hoặc thay đổi vị trí bàn. Tôi muốn những trao đổi về vận hành xuất hiện ngay khi tổ chức không gian, bởi sửa một quy tắc sử dụng và sửa một bức tường có chi phí rất khác nhau.

Đây vẫn là một hướng nghiên cứu cần được kiểm chứng qua sử dụng. Trước mắt, có thể tự kiểm tra bằng cách che tên phòng trên bản vẽ rồi lần theo một hoạt động từ đầu đến cuối. Với buổi học làm đồ vật, hãy theo một người từ lúc mang vật liệu vào tới khi rửa tay ra về. Chỗ nào họ phải dừng vì thiếu chỗ đặt, đi vòng vì vướng ghế hoặc không biết cất đồ ở đâu, chỗ ấy còn việc để thiết kế.

Biên tập từ bài luận “Thiết kế điều kiện sống” — một thử nghiệm nhận thức đang phát triển.

Tất cả bài viết